Tổ quốc mến yêu

Tài nguyên dạy học

Thời gian là vàng

Thời tiết
25-35oC Ngy 18-4-2020: My thay đổi. Ngy nắng nóng. Đm khng mưa. Gi đng bắc cấp 2 - 3.

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Like Facebook nha

    Gốc > Kinh nghiệm GD-DH > Môn khác >

    sáng kiên dạy văn miêu tả lớp 5

    4.1. Giúp học sinh hiểu thế nào là văn miêu tả và đặc điểm của văn miêu tả:

    4.1.1. Thế nào là văn miêu tả?

    - Trong từ điển Hán Việt, miêu tả là lấy nét vẽ hoặc câu văn để biểu hiện cái chân tướng của sự vật ra.  Miêu tả là một nghệ thuật dùng ngôn ngữ sinh động, cụ thể, để vẽ ra các sự vật. Miêu tả giỏi là khi đọc những gì chúng ta viết, người đọc như được thấy cái gì đó thể hiên ra trước mắt, không những được nghe âm thanh ngửi thấy mùi vị mà còn thấy cả tâm trạng buồn, vui, yêu, ghét của sự vật ấy nữa.

    Tuy nhiên, sự vật do văn miêu tả tạo nên không phải là bức ảnh chụp lại sao chép một cách vụng về. Nó là sự kết tinh của những nhận xét tinh tế những rung động sâu sắc mà người viết đã thu lượm được khi quan sát cuộc sống. Bởi thế sự miêu tả trong văn chương có ưu thế riêng so với sự miêu tả bằng đường nét màu sắc hội họa. Dùng ngôn ngữ văn chương có thể tả sự vật trong một quá trình vận động có thể tả cả những thứ âm thanh và hình như âm thanh, tiếng động, hương vị … hay tư tưởng tình cảm thầm kín của con người.

    Miêu tả hay là khi đọc ta như thấy những bức chân dung tuyệt diệu hiện ra. Tất cả rõ nét và dường như đang rung rinh, đang chuyển động trước mắt người đọc khiến bức tranh trở nên cụ thể hữu tình.

    Ví dụ: Cảnh buổi sáng ở thành phố Hồ Chí Minh dưới ngòi bút của Nguyễn Mạnh Tuấn được miêu tả như sau: (Mặt trời chưa xuất hiện như tầng tầng lớp lớp bụi hang ánh sáng đã tràn lan khắp không gian, thoa hửng phấn trên những tòa nhà cao tầng của thành phố, khiến chúng trở nên nguy nga đậm nét)

    - Rõ ràng ta thấy theo thời gian, cảnh vật dần chuyển biến như một bức tranh sinh động, từ nhiều góc độ ánh sáng.

     4.1. 2. Đặc điểm văn miêu tả:

    a. Văn miêu tả mang tính thẩm mĩ và chứa đựng tình cảm người viết.

     Dù tả người hay tả cảnh bao giờ người viết cũng gửi gắm vào đó nhiều tình cảm hay một lời nhận xét bình luận của mình. Nhờ vậy mà miêu tả trong văn học khác miêu tả trong khoa học (sinh học, địa lý, khảo cổ, TNXH …)

    Ví dụ: Đoạn văn miêu tả giọng nói nhẹ nhàng, diễn tả lúc cao, lúc thấp dễ đi vào trí nhớ tác giả. Cho thấy tình cảm thân thiết, gần gũi, yêu thương mà tác giả dành cho bà qua bài tôi  “Bà tôi” (trích Tiếng Việt lớp 5 - tập 1 - trang 122): (giọng nói bà tôi đặc biệt trầm bổng, nghe như tiếng chuông đồng. Nó khắc sâu vào trí nhớ tôi dễ dàng, nnhư những đóa hoa, và cũng dịu dàng, rực rỡ, đầy nhựa sống.)

    b.Văn miêu tả có tính sinh động và tạo hình.

      Đây là điểm quan trọng trong bài văn miêu tả hay. Dùng từ để  tô điểm cho người và vật là một việc nhưng tả được một cách sinh động mới là khó. Bài văn đươc coi là sinh động tạo hình khi các sự vật, đồ vật, phong cách con người … được miêu tả hiện lên qua từng câu, từng dòng như trong cuộc sống thực, tưởng như có thể nắm được hoặc “sờ mó” được. Đã làm nên sự sinh động tạo hình là những chi tiết sống gây ấn tượng … tước bỏ chúng đi bài văn miêu tả sẽ trở nên mờ nhạt, vô vị. Ta cứ tưởng tượng bài “Sân chim”của Đoàn Giỏi có hình ảnh Cồng cộc đứng trong tổ vươn cánh như tượng người vũ nữ bằng đồng đen đang vươn tay múa. Chim gà đảy, đầu hói như những ông thầy tu mặc áo xám, trầm tư, rụt cổ nhìn xống chân”

     Đây là điểm quan trọng trong bài văn miêu tả hay. Dùng từ để  tô điểm cho ngư­ời và vật là một việc, như­ng tả đ­ược một cách sinh động mới là khó. Bài văn đựơc coi là sinh động tạo hình khi các sự vật, đồ vật, phong cách con ng­ười … đ­ược miêu tả hiện lên qua từng câu, từng dòng như­ trong cuộc sống thực, tưởng nh­ư có thể nắm đ­ược hoặc “sờ mó” đ­ược.

                                                                                                                                             c. Ngôn ngữ miêu tả giàu cảm xúc và hình ảnh:

           Muốn vẽ đ­ược sinh động và tạo hình đ­ược đối tư­ợng miêu tả, văn miêu tả thường hay dùng phư­ơng pháp nhân hóa, so sánh …Có như vậy ngôn ngữ miêu tả mới tỏa sáng lung linh trong lòng ng­ười đọc, gợi lên trong lòng họ những tình cảm, cảm xúc ấn t­ượng và có hình ảnh về sự vật đ­ược miêu tả. Hãy lắng nghe đoạn văn có ngôn ngữ giàu hình ảnh nh­ư “Màn mây xám đục trên cao đã rách m­ớp, trôi giạt cả về một ph­ương, để lộ dần một vài mảng trời thấp thoáng xanh. Một vài tia nắng hiếm hoi bắt đầu mừng rỡ rọi xuống” (Bài núi rừng Trư­ờng Sơn sau cơn mưa).

    - Giáo viên và học sinh cần hiểu rõ văn miêu tả để nhận thức đúng nhiệm vụ của phân môn này .

    4.2. Giúp học sinh biết quan sát tìm ý cho bài miêu tả:

              Đây là một trong những việc làm không mới nhưng rất quan trọng giúp học sinh viết văn chân thực và sinh động hơn. Dạy văn miêu tả là phải dạy các em quan sát. Nhờ quan sát mà con ng­ười thu l­ượm được những hiểu biết phong phú, rộng rãi, cụ thể và sâu sắc về thế giới hiện thực. Giúp học sinh tích lũy vốn từ ngữ miêu tả và lựa chọn từ ngữ khi miêu tả. Giúp học sinh diễn đạt có nghệ thuật và biết bộc lộ cảm xúc trong bài văn. Điều quan trọng không thể thiếu với văn miêu tả là phải dạy các em thể hiện chân thực những quan sát, những suy nghĩ, tình cảm của mình. Bài văn chân thực bao giờ cũng giàu sức truyền cảm kể cả khi nó còn ngây ngô, vụng về. Bởi vì khi đã nói, viết chân thực với lòng mình thì mỗi bài đều có cái riêng, cái lạ thậm chí cái mới, cái độc đáo.

    Sau khi được dự chuyên đề tập làm văn lớp 5 năm học 2017 - 2018 về việc chống dạy văn mẫu, tôi đã tiến hành áp dụng cho lớp mình và bây giờ cũng vậy. Điều làm tôi thú vị là sản phẩm thu đ­ược của các em khá phong phú từ màu sắc đến hình ảnh. Các em vẽ lên sự t­ưởng t­ượng ngộ nghĩnh rất dễ thư­ơng. Ng­ười và cảnh đều được các em vẽ với một sự thích thú khác hẳn khi cho các em làm văn. Đặc biệt lớp tôi có học sinh không thích học tập làm văn và l­ười học Tiếng Việt nh­ưng khi được định hướng cách quan sát để tìm ý thì thái độ học tập của em khác hẳn.  Nhờ đó mà em đã biết tìm ý đúng để lập dàn ý chi tiết cho bài văn mặc dù lời lẽ mô tả ch­ưa  gãy gọn, ch­ưa đ­ược chính xác như­ng dù sao cũng tạo cho học sinh có nhu cầu để nói về đề tài mình muốn quan sát. Tuy nhiên để định hướng quan sát cho các em thì sự hướng dẫn của giáo viên vẫn luôn cần thiết.

              Thường trong các tiết, tôi hướng dẫn học sinh quan sát theo trình tự chung để có thể vận dụng vào các trường hợp cụ thể như:

    *Trình tự không gian: Từ quan sát toàn bộ đến từng bộ phận hoặc ngược lại.     Quan sát từ trái sang phải hay từ trên xuống dưới, từ gần đến xa hoặc ngược lại .

    *Trình tự thời gian tùy theo bài quan sát cảnh vật theo trình tự thời gian hợp lý .

    *Quan sát là dùng các giác quan để nhận biết sự vật, như màu sắc (xanh, đỏ, tím, vàng …) hình dạng (cao, thấp, tròn, vuông, chữ nhật …) hoạt động (thoăn thoắt, lom khom …). Nhờ quan sát bằng các giác quan mà ta tìm ra được các đặc điểm của cảnh vật.

    *Trước khi học văn miêu tả các em đã có sự quan sát sự vật trong cuộc sống. Tuy nhiên sự quan sát ấy chưa có chủ đích, do vậy tôi  giúp các em có phương pháp, có định hướng quan sát thông qua giờ tập làm văn. Điều quan trọng trong quan sát để làm văn miêu tả là tìm ra những đặc điểm riêng biệt của người, của cảnh, để thấy rõ sự khác biệt  giữa đối tượng mình đang quan sát với đối tượng khác cùng loại.

         Tôi cho học sinh thấy rằng muốn miêu tả hay phải tập quan sát, phải có công quan sát và tất cả những phát hiện khi quan sát phải gắn chặt với cái chân thực. Có như vậy mới có thể miêu tả sự vật chân thực và sinh động được.

    4. 3. Hướng dẫn học sinh tích lũy và lựa chọn từ ngữ khi miêu tả:

            Giúp học sinh tích lũy vốn từ ngữ khi miêu tả và lựa chọn từ ngữ khi miêu tả là vấn đề quan tâm của nhiều giáo viên.

             Tôi thường giúp các em tích lũy vốn từ ngữ khi miêu tả qua các bài tập đọc. Có nhiều bài tập đọc là các bài miêu tả hay của các nhà văn, hơn nữa từ ngữ miêu tả ở các bài phong phú và được các tác giả sử dụng rất sáng tạo. Với các bài có ý hay, tôi chọn vài trường hợp đặc sắc để phân tích cái hay và sự sáng tạo ấy.

    Ví dụ : Dạy bài “Bà tôi” (Tiếng Việt 5 – tập 1) tôi chỉ ra những tính từ, động từ

    “ngăm ngăm, nhanh nhẹn, tươi trẻ, trầm bổng, ấm áp, xõa xuống ngực, nâng mớ tóc, đưa một cách khó khăn”.

              Tả người có bài: “Bà cụ bán hàng nước chè” (Tiếng Việt 5 – tập 1 của Nguyễn Tuân) có thể nêu nhiều ví dụ trích dẫn từ các bài tập đọc, điều ấy chứng tỏ mật độ từ ngữ miêu tả trong nhiều bài tập đọc đậm đà và cách dùng chúng thật hay, thật đa dạng mà nếu ta tận dụng được vốn quý này sẽ nhanh chóng nhân vốn từ ngữ miêu tả của học sinh. Tôi khuyến khích các em lập sổ tay văn học để ghi những từ ngữ miêu tả mà mình thích sau mỗi bài tập đọc hoặc báo đài … đối với nhiều bài tập đọc có các đoạn hoặc ý miêu tả hay tôi thường đặt câu hỏi “Em thích đoạn, ý hay chi tiết nào trong bài nhất, vì sao? ”

          Các chi tiết học từ ngữ cũng là dịp để giúp các em không chỉ hiểu rõ nghĩa của từ mà còn mở rộng chúng khi tìm ra các từ gần nghĩa hoặc trái nghĩa tránh lập lại từ không cần thiết. Việc mở rộng vốn từ láy có ý nghĩa tích cực đối với việc tích lũy vốn từ ngữ miêu tả cho học sinh. Ngoài ra, viêc khuyến khích các em đọc tác phẩm văn học cũng là dịp để các em tích lũy vốn từ ngữ.

    *Lựa chọn từ ngữ khi miêu tả:

          Có từ ngữ nhưng phải biết dùng chúng đúng lúc, đúng chỗ nên việc lựa chọn từ ngữ để diễn đạt kết quả quan sát khi làm bài văn miêu tả là việc quan trọng. Mỗi chi tiết miêu tả thường chỉ có một từ ngữ, một hìng ảnh thích hợp. Việc xây dựng từ ngữ cần dùng cho một chi tiết miêu tả phải qua một quá trình tìm tòi chọn lọc. Cách làm thông thường là so sánh các từ gần nghĩa hay trái nghĩa.

          Ví dụ: Bên cạnh tính từ “đẹp” còn có thể dùng từ khác như “trông dễ mến, xinh, xinh xắn, dễ coi…”

           Ngay trong cách đặt câu hỏi tiết hướng dẫn học sinh quan sát và tìm tòi từ ngữ, hình ảnh khi miêu tả. Đối với học sinh năng khiếu cần tránh các câu hỏi chỉ để hỏi có tính chất khoa học mà nên hỏi thêm những câu hỏi có tác dụng gợi từ miêu tả.

    4.4. Giúp học sinh diễn đạt có nghệ thuật và bộc lộ cảm xúc trong bài văn.

           Muốn có bài tập làm văn tốt các em cần bồi dưỡng tâm hồn, cảm xúc, tích lũy vốn hiểu biết về cuộc sống, các tri thức văn hóa chung thông qua môn học và phải có sự kiên trì luyện tập các kỹ năng làm bài văn. Các em bộc lộ trên giấy tình cảm yêu ghét của mình…chỉ có những tình cảm trong sáng, đẹp đẽ, hồn nhiên mới tạo ra những đoạn văn, bài văn đáng yêu và đạt kết quả cao. Giúp cho học sinh tự bồi dưỡng tình cảm, cảm xúc biết yêu quý thiết tha bố mẹ, anh chị em, người thân, yêu thiên nhiên và vạn vật xung quanh. Dạy các em có tinh thần hào hiệp giúp dỡ bạn bè và những người gặp khó khăn…chính những tình cảm ấy sẽ tạo lên mạch ngầm làm cho bài văn của em sống động lôi cuốn, hấp dẫn người đọc.

            Nhiều học sinh nhất là học sinh lớp tôi khi làm tập làm văn cảm thấy khó, thấy bí, thấy không biết viết gì, nói gì. Nguyên nhân quan trọng vì các em thiếu vốn sống, thiếu hiểu biết những gì liên quan đến bài làm mà không có nguyên liệu làm sao có sản phẩm. Vì thế tôi đã đẩy mạnh hoạt động thực tiễn ngoại khóa để hỗ trợ cho việc học tập làm văn của học sinh. Tuy nhiên, từ hoạt động hàng ngày và qua sách báo, truyền hình, truyền thanh vốn sống của các em được mở rộng ra rất nhiều.

           Để học sinh diễn đạt được bài văn của mình một cách sinh động, có nghệ thuật, các em thường được trau dồi qua tiết làm văn miệng. Qua tiết này, học sinh được thể hiện cách diễn dạt của mình và học tập bạn, được luyện các mở bài, kết bài và tập vận dụng một số biện pháp nghệ thuật đã học và việc diễn tả nội dung.

    4. 5. Tập cho học sinh kĩ năng làm văn miệng có hiệu quả.

        Bài văn miệng hay bài  văn  viết đều nhằm phát  triển ở mỗi học sinh cả khẩu ngữ và bút ngữ , đó là sự bày tỏ tình cảm, nhận xét, là sự trình bày  các  hiểu biết về cuộc sống. Để thực hiện có hiệu quả khi hướng dẫn học sinh làm văn miệng theo hướng tích cực hóa hoạt động  học tập của học sinh, tôi đã áp dụng cả phương pháp dạy học theo mô hình VNEN vào một số tiết học và thực hiện một số giải pháp như sau:

     Giải pháp 1: Khi trình bày miệng hoặc viết bài văn hoàn chỉnh phải xác định mình đang giao tiếp với đối tượng nào. Ví dụ : “ Em hãy tả cảnh nhộn nhịp của sân trường em trước giờ học” cho một người bạn thân nghe. Lúc này bài văn nói đã có đối tượng giao tiếp là bạn thì cần nói phần mở bài, thân bài những chi tiết nào? Kết bài dùng những từ ngữ ở đoạn kết như thế nào? Tạo ra tình huống chân thật, không gượng ép, không khô khan, nói bằng suy nghĩ riêng của mình.

    Giải pháp 2: Khi luyện nói cho học sinh, tôi hết sức chú ý đến hoạt động chung mọi mặt của lớp học như: Hoạt động nghe của giáo viên, trật tự lớp học, lời động viên khen ngợi, sự lắng nghe chăm chú của các bạn trong lớp sẽ là niềm động viên an ủi, cổ vũ cho học sinh mạnh dạn nói trong giờ học.

    Động viên học sinh khi nói phải tự tin, bình tĩnh, phải chú ý đến diễn biến tâm lí và hứng thú của người nghe đối với bài nói của mình để điều chỉnh kịp thời cách nói.

    Giải pháp 3: Giọng nói phải đều đều, rõ ràng, tập nói có diễn cảm, tránh nói đứt quãng không liền mạch, tránh nói thuộc lòng vì lời nói mất tự nhiên.

    Giải pháp 4: Trong lớp học, nhận thức của học sinh không đồng đều, có em nói

    tốt, có em không nói nổi một câu. Vì vậy tôi cung cấp vốn từ theo từng chủ đề để hỗ trợ lời nói cho các em.

    Giải pháp 5: Hướng dẫn lập dàn ý hoặc hoàn thiện dàn ý đã chuẩn bị trước để học sinh xác định những điều cần nói và cách nói. Yêu cầu học sinh nói từng ý, nói hai đến ba ý liên tục, nói một đoạn, nói một phần của bài  rồi tiến tới nói toàn bài. Mỗi ý, mỗi phần cần khoảng hai hoặc ba em tập nói. Phân công học sinh năng khiếu có nhiệm vụ khám phá và trình bày, học sinh kém nghe và nêu lại. Yêu cầu học sinh lắng nghe và nhận xét, bổ sung kết quả trình bày của bạn, tạo được từng bước học sinh tích cực hơn trong học tập.

    4. 6. Luyện cho học sinh kĩ năng viết đoạn mở bài và kết bài.

    a. Luyện mở bài:

           Các em có thể vào bài trực tiếp hoặc gián tiếp, có em mở bài bằng một câu nhưng có em mở bài băng cả một đoạn văn, nhưng không ai được phép tách rời nội dung đã xây dựng được. Tùy theo cách vào bài của em nào mà góp ý, không gò bó, áp đặt.

            Do khuyến khích học sinh diễn dạt phần mở bài bằng những cách khác nhau mà vẫn đảm bảo nội dung chính nhờ vậy các em đã viết bài văn hay.

    b. Luyện kết bài :

                Có nhiều cách kết bài khác nhau nhưng tất cả điều xuất phát từ nội dung chính. Cũng như mở bài các em nêu cảm xúc hoặc thâu tóm lại vấn đề thì cũng có thể bằng nhiều cách nhưng nên chọn cách nào cho hay.

             Tương tự như vậy học sinh luyện nói kết luận, mỗi em mỗi cách và hướng cho các em thấy cách nào nhanh hơn. Chính nhờ vậy, có rất nhiều kết luận khác nhau.

            Trong việc hướng dẫn học sinh diễn đạt thì biện pháp chủ yếu của tôi là chia thành các ý nhỏ cho nhiều em phát biểu. Sau đó chắt lọc, hướng cho học sinh thấy cách nào được, cách nào chưa được để phát huy hay sửa chữa …

             Khi dạy tập làm văn ta luôn hướng tới việc dạy cho học sinh cách viết văn mạch lạc, khúc triết nhưng làm sao để đạt được điều đó. Để giải quyết vấn đề này, tôi thường dạy các em liên kết câu bằng một số quan hệ thông thường nhất là các em luôn gặp phải như liệt kê, nhân quả, thời gian, không gian…khi hai câu đứng cạnh nhau, mà chưa có mối liên hệ nào thì điều đó có nghĩa là chúng chưa liền mạch với nhau, chưa liên kết với nhau.

             Khi các em học sinh đã thành thạo với việc liên kết câu ta có thể cho học sinh viết đoạn. Việc luyện cho học sinh viết đoạn sẽ rèn được nhiều kỹ năng làm việc cần thiết cho học sinh và tránh được tâm lý ngại viết vì các em chỉ phải viết một số câu không quá nhiều so với bài làm văn hoàn chỉnh.

             Khi dạy tập làm văn, chúng ta thường yêu cầu học sinh viết trọn vẹn cả một bài văn trên lớp. Điều này là cần thiết nhưng không phải ở tiết học nào chúng ta cũng làm được như vậy. Bởi lẽ, viết một bài văn mất quá nhiều thời gian tôi thường cho các em viết đoạn bằng cách ra đề, yêu cầu học sinh viết khoảng 3 - 4 câu và nội dung đề đó, phần còn lại về nhà làm vào vở nháp và nộp lại để sửa. Đối với học sinh còn yếu chỉ yêu cầu viết ý (có thể chỉ là 1 câu) để tả một khía cạnh nào đó của vấn đề.

            Với cách hướng dẫn từng bước, tôi thấy dần dần học sinh đã biết cách viết và không còn ngại viết văn nữa.


    Nhắn tin cho tác giả
    Nguyễn Thắng Lợi @ 20:18 05/03/2019
    Số lượt xem: 768
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến